SÀI GÒN VĨNH VIỄN
KHÔNG BAO GIỜ MẤT TÊN,
DÙ ÐANG CSVN CỐ PHONG THÁNH CHO HỒ CHÍ MINH , ÐỂ
BỊP ÐỜI
––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––-
MƯỜNG GIANG
Năm Ất Mùi (1295), Nguyên Thành Tôn cử một
phái đoàn sứ giả, tới thăm vua Chân Lạp là
Cindravarman (1295-1307), nhân tiện nhắc nước này về
việc không triều cống cho Tàu. Trong đoàn, lúc đó có tuỳ viên Châu
Ðạt Quan, đã ghi lại cuộc du hành, qua các thiên ký sự
như ‘ Chân Lạp phong thổ ký, Thành trai tạp ký, Cổ
kim thuyết hải, Ðồ thư tập thành.. ’ ’ về sau được
danh sĩ Ngô Khâu Diên, ca tụng hết lời trong tác phẩm
‘ Trúc tố sơn phòng thi tập ‘.
Cũng nhờ những ghi chépỳ của
họ Châu, chúng ta ngày nay mới biết được thực
trạng của vùng Thủy Chân Lạp (Nam Phần), qua thủy
lộ từ cửa Ðại (Mỹ Tho), tới các vùng đất
của miền Lục Chân Lạp (Kampuchia ngày nay) như Trà
Nam (tức Tch’a Nan, tỉnh Kompong Chhnag), Bàn Lộ Thôn (Panlon
Is’one),Phật Thôn (Fo Is’one), Ðàm Dương (Biển Hồ ố
Tân Yang Tonlésap) và kinh đô lúc đó là Angkor, tức Ðế Thiên Ðế
Thích.
Theo bút ký ghi lại, ở đâu cũng chỉ
thấy cảnh hoang tàn cô quạnh, hầu như toàn là cỏ
kê lau lách, không một bóng cây xanh, vườn tược, ruộng
rẫy và sự sống hay bước chân của con người.,
ngoài tre nứa và từng đàn trâu rừng tụ họp trong các đầm
lầy bùn sình, dọc theo hai bờ sông.đục ngầu
và đặc sệt những đám lục bình lang thang xuôi ngược.
Ðọc ‘ Ðất Việt trời Nam ‘, của
Thái Văn Kiểm, ta thấy tác giả đã hết lòng ca
tụng Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), và Trần
NhânTông thưở trước, vì hai ngài nghĩ tới non
nước, nên vua Trần thì đã gã Huyền Trân Công Chúa
cho vua Chế Mân, vừa được thêm hai châu Ô-Rí (Quảng
Trị-Thừa Thiên), lại vửa có được một
đồng minh Chiêm Thành lúc đó, rất hùng mạnh ở phương
Nam, để hai nước cùng lo chống giặc Mông Cổ..
Sau đó, chúa Sãi Vương
cũng vậy, Ông đã vì nước, nên đem hai người
con gái cưng là Ngọc Khoa gã cho vua Chiêm Thành Po Romé và Ngọc
Vạn lấy vua Chân Lạp Chei Chetta II. Nhờ vậy Ðàng
Trong mới có hòa bình ở nam phương, tạo cơ hội
cho người dân Thuận-Quảng tới được
miền Thủy Chân Lạp lúc đó đang bị bỏ
hoang, để khai khẩn làm ăn vì lãnh thổ của
Chúa Nguyễn rất hạn hẹp, không có bao nhiêu đồng
ruộng, trong đó đất
đai hầu hết đều xấu vì sự xâm thực
của cát biển, đất núi, không trồng trọt được
là bao, dù nông dân đã tận lực.
Năm 1698, sau khi bình định xong Thuận
Trấn, Thống Suất Nguyễn Hửu Cảnh được
lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu vào Nam để mở rộng
bờ cõi Ðại Việt. Cùng theo đoàn quân đi mở đất
phương Nam, lúc đó
có rất nhiều di dân theo khai hoang lập nghiệp. Nhưng
tất cả từ quân cho tới dân, ai nấy đều
không khỏi kinh hoàng bạt vía, trong cảnh bơ vơ nơi
đất lạ muôn trùng : ‘ tới đây xứ sở lạ
lùng, con chim kêu phải sợ, con cá vàng cũng kinh ‘ và ‘ ‘
chèo ghe sợ sấu cắn chưn, xuống sông sợ đỉa,
lên rừng sợ ma ‘.Sự kiện này cũng đâu khác gì
hoàn cảnh của người Việt trước đó, khi theo chúa Nguyễn
Hoàng, tới khai khẩn lập nghiệp các vùng đất
miền Trung bỏ hoang của người Chiêm, từ Bình
Ðịnh vào tới Bình Tuy ngày nay. Tất cả đã nói lên
mặt thật của miền đồng bằng sông Cửu
Long và địa danh Sài Gòn, thuở xa xưa hơn 300 năm
về trước, khi mà ông cha ta từ miệt ngoài vào đây
khẩn hoang lập vườn. Tất cả thật sự
là vùng ác địa, ma thiêng nước độc, chẳng
những trên rừng hoang đầy rẩy thú dử, mà
ngay dưới sông cũng đặc nghẹt ngư kình.
Cũng may các vị tiền nhân trong đó hầu hết là các Chúa Nguyễn
Nam Hà, nhất là Sãi Vương, Hiền Vương và Quốc
Chúa Nguyễn Phúc Chu, cùng với các danh tướng Nguyễn
Hửu Cảnh, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Cửu Ðàm,
Nguyễn Văn Thoại, Lê Văn Duyệt.. và lưu dân
Thuận-Quảng lúc đó,
đã lấy mồ hội nước mắt, cùng với
xướng máu và sự quyết tâm vượt qua mọi
nguy hiểm tại họa chết người, mà ngày nay
chúng ta con cháu mới có được miền đát Nam Phần trù
phú, cũng như thủ đô yêu dấu Sài Gòn, để
cho cọng sản đệ tam quốc tế , sau ngày
30-4-1975 vào cướp của và đổi tên.
Theo Trịnh Hoài Ðức trong ‘ Gia Ðinh thành
thông thái ‘, ngay từ năm 1623, thì dân Việt đã đến
làm ăn tại Sài Gòn lên tới 10.000 người, nên Sãi Vương
Nguyễn Phúc Nguyên đã cho thu thuế thương chính
cũng như lập đồn binh, trại quân để
bảo vệ an ninh và tài sản của lưu dân Việt.
Như vậy Sài Gòn đã trở thành vùng đất quan trọng
của Nam Hà, từ nửa thế kỷ XVII .Nhưng theo
Lê Quý Ðôn trong ‘ Phủ biên tạp lục ‘, thì địa
danh Sài Gòn, mới thật sự chính thức vào sử sách,
từ tháng 2-1674, khi Hiền Vương sai Nguyễn Dương
Lâm vào bảo vệ cho Phó Vương Chân Lạp là Nặc
Nộn, đóng đô ở đây.
Cũng từ đó
Sài Gòn đã thay đổi không ngừng theo sự biến
chuyển của lịch sử dân tộc, mà khởi đầu
là việc Kinh Lược Sứ Nguyễn Hửu Cảnh năm
1698, dựng dinh Phiên Trấn, lập huyện Tân Bình và khai
sinh ra đô thị Sài Gòn. Năm 1890 Chúa Nguyễn Phúc Ánh xây
thành Bát Quái nguy nga tráng lệ với một chu vi tới
648m. Thành này được Vua Minh Mạng phá bỏ năm
1836, để xây Gia Ðịnh Thành và tồn tại tới
17-2-1859, mới bị thực dân Pháp và Tây Ban Nha phá xập.
Từ đó Sài Gòn sống dưới
gót giầy nô lệ của ngoại xâm nhưng đã không bị
giặc dày xéo xóa tên, trái lại còn được trân quý, nổi
danh thành ‘ Hòn ngọc Viễn Ðông ‘ một thời lừng lẫy.
Ngày
Rồi lợi dụng lòng nhân từ, tình đồng
bào và lệnh hưu chiến vào ngày Tết Nguyên Ðán thiêng
liêng nhất trong năm của dân tộc, Hồ Chí Minh và đảng
Việt Cộng, ra lệnh tổng tấn công khắp lãnh
thổ VNCH, từ bên này cầu Hiền Lương tại
Vĩ tuyến 17, vào tới chốn tận cùng của đất
Việt ở Cà Mâu, trong dịp tết Mậu Thân 1968. Thủ
đô Miền
Sau khi dẹp bỏ cái quái thai của thời
đại, được gọi là ‘ Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam ‘ , ngày 20-12-1976 cọng sản đệ tam
quốc tế, qua quyền hành của kẻ thắng trận,
lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN gồm
hai miền Nam-Bắc, thủ đồ cả nước
là Hà Nội, năm đó
có 800.000 dân kể cả ngoại ô. Còn Sài Gòn, thủ đô
của Miền Nam, vùng đất thiêng của dân tộc, được
tạo dựng bằng máu lệ xương thịt của
tiền nhân, qua bao nhiêu thế hệ kể cả quân dân
VNCH trong 20 năm (1955-1975) , bị cọng sản quốc tế
cưởng doạt, đổi tên là thành phố Hồ Chí
Minh, giá trị chỉ là một thành phố địa phương,
như những thành phố lơn trong nước Hải
Phòng, Vinh, Huế, Ðà Nẳng, Cần Thơ.. dù Sài Gòn năm
đó, có dân số đông
nhất nước, là 1.860.000, nếu cộng thêm vùng ngoại
ô, gồm 6 huyện Bình Chánh, Thủ Ðức, Hóc Môn, Củ
Chi, Nhà Bè và Duyên Hải, tổng cộng là 2.680.000 người.
Ba mươi hai năm qua , kể từ
ngày Sài Gòn bị mất tên, mà thật sự chỉ mất
trên các văn kiện của đảng cọng sản chứ
nơi tâm hồn của người Việt trong và ngoài nước,
đâu có ai thèm xài cái xú danh này ? , dù là giai đoạn hung hiểm nhất
(1975-1990). Sau khi thiên đàng
xã nghĩa bị sụp đổ tại Ðông Âu và Liên Xô, bắt
buộc đảng VC phải mở cửa để kiếm
sống và cứu mình. Cũng kể từ đó cho tới nay
(2007), người VN trong và ngoài nước,hầu như
không còn ai nhớ tới thành Hồ, kể cả những
lúc bị bắt buộc, họ vẫn nói trỏng là thành
phố mà thôi. Mấy lúc gần đây, có một số văn
nô trong nước, trước vấn nạn của đồng
bào về việc tại sao phải đổi tên Sài Gòn, đã
trả lời đó
là để ghi nhớ công ơn của một số danh
nhân, nên đảng đã lấy tên làm một số địa
danh như TP.HCM, đường Nguyễn Văn Trổi,
công viên Lê Văn Tám, trường Võ Thị Sáu, kênh Lê Anh
Xuân.. rồi còn viết thêm, vì anh thanh niên Nguyễn Văn
Ba, đã xuất dương cứu nước tại bến
Ðầu Rồng vào năm 1911, nên phải đổi tên Sài
Gòn, để kỷ niệm. Luận điệu y chang như
việc thầy Thành tới dạy học ở trường
Dục Thanh Phan Thiết, nên đảng phải tịch thu
gia sản của Nguyễn Thông và đồng bào quanh vùng Cồn
Cỏ-Ðức Nghĩa, dọc theo bờ sông Cà Ty (đường
Trưng Nhị), để lập nhà bảo tàng cho ‘ bác’ được
sống mãi trong quần, chúng Bình Thuận
Vì gần hết cán bộ cao cấp của
đảng cọng sản VN đều xuất thân tại
Liên Xô, từ Hồ Chí Minh,Trần Phú, Lê Hồng Phong .. xuống
tới các thế hệ đương cầm quyền hiện
nay như Nông Ðức Manh, Trần Ðức Lương, Phan Văn
Khải, cho nên việc đảng cọng sản VC, sao y bản
chánh từ đảng CS mẹ LX, đem về ứng dụng
tại VN, cũng là điều bó buộc. Tại Liên Xô,
sau cách mạng 1917, Lenin triệt hạ Sa Hoàng, đổi cờ,
chế độ , xây tượng đài, lăng, ướp xácvà đổi
luôn tên của thành phố lớn thứ 2 cùa Nga, vốn là
nơi sinh quán của mình ( kể cả Putin sau này), từ
tên nguyên thủy ST.Petersburg thành Leningrad (hiện có 4.456.000
dân). Sau đó Staline cũng bắt
chước Lenin, đổi thành phố sinh quán của mình
là Volgograd thành Stalingard (hiện có 999.000 người ). Nhưng
đời là một cuộc bể dâu trước mắt,
nên đâu có ai ngờ được ngày mai, như chuyện
bên Tàu, khi Trung Cộng chiếm được Lục địa,
đã nhân danh kbảo cổ, văn hóa, nghệ thuật..
mà thật sự là đào
mã người khác để cướp vàng bạc châu báu,
nên ra lệnh cho khai quật tất cả các lăng mộ
của hầu hết các vị đế vương Trung
Hoa, từ Tần Thủy Hoàng, Hán Cảnh Ðế , Võ Tắc
Thiên .. ở đồng bằng Guanzhong, tây bắc tỉnh
Shannxi (72 hoàng đế) , cho tới mộ của Càn Long, Từ
Hi.. những vị vua Mãn Thanh, tại vùng đông bắc nước
Tàu. Năm 1991, chế độ cọng sản bị cáo
chung tại Ðông Âu và Liên Xô, ngoài việc hai thành phố
Leningard và Stalingard được lấy lại tên củ,các
tượng Lenin tại Mạc Tư Khoa và cả nước
bị giựt xập, thảm nhất là bức tường
bề thế tại quảng trưởng đỏ của
thủ đô bị đồng bào chém đầu. Riêng lá cờ
máu búa liềm của Liên Xô, được xài từ năm
1917 tới đầu năm 1992, cũng được
thay thế bằng lá cờ tam tài nằm ngang với ba màu
trắng xanh lơ và đỏ của nước Nga, đã
có từ thế kỷ XIX, với ý nghĩa thiêng liêng, nói
lên sự hình thành của nước này, do ba chủng tộc
: Bạch Nga (màu trắng), Ukraine (màu xanh lơ, nay đã tách
riềng thành một nước độc lập) và người
Moskva ( màu đỏ).
Những ngày máu lửa cuối tháng 4-1975,
nhiều người uất hật đau khổ bỏ nước
ra đi trong tuyệt vọng và tin chắc rằng cả đời
mình sẽ chẳng bao giờ được trở về
quê hương, trong đó
có Sài Gòn, bởi vậy Nguyễn Ðính Toàn đã viết ‘ Sài
Gòn ơi ta đã mất người như người đã
mất tên ‘ . Nhưng bây giờ thì ai cũng ngang nhiên, dõng dạc
về Sài Gòn hàng chục lần và ngay trước mặt
công an VC, ai cũng xài tên Sài Gòn, chứ có người nào nói
tới TP.HCM ? Như vậy Saìgòn đâu có mất tên, vì người
Việt, Nước Việt vẫn còn. Nên chuyện lấy
lại cái tên chính thức chỉ còn là vấn đề thời
gian mà thôi, vì cuộc biển dâu, đâu ai biết trước
mà ngờ ?. Theo tin của Reuters ngày 28-9-2005, thì các chóp bu Ðiện
Cẩm Linh, trong đó
có Putin, đang cứu xét việc đập bỏ lăng
Lenin, lãnh tụ đầu tiên của đảng cọng sản
đệ tam quốc tế, chết năm 1924, được
xây tại Quảng trường Ðỏ ở thủ đô
Moscow, đem chôn theo ý của dân Nga, đã đòi hỏi từ năm
2001 tới nay vẫn chưa nhúc nhích ?
Những ngày còn sống trong nước, bất
cứ nghe ai hát lén bài hát đầu tiên từ hải ngoại
vọng về quê hương VN đang quằn quại ngoi
ngóp trong địa ngục đỏ, khiến ai cũng phải
khóc . Ðó là bài ‘ Vĩnh Biệt Sài Gòn ‘ của Nam Lộc, trước
năm 1975 là một sĩ quan của QLVNCH, một nhạc
sĩ tài tử, chuyên môn giới thiệu hầu hết các
chương trình ‘ Nhạc Trẻ của Sài Gòn ‘ trong thập
niên 60-70 . Thiên hạ chưa kịp khô hết nước mắt
hận hờn, thì Việt Dũng lại làm cho người
người thét lên thành tiếng, khi anh viết ‘ Một
Chút Quà Cho Quê Hương ‘ :
‘ Em gửi về
cho anh dăm bao thuốc lá
anh đốt cuộc
đời mòn trên ngón tay
gởi về cho mẹ
dăm chiếc kim may
mẹ may hộ
con quê hương quá đọa đày
con gởi cho cha một
manh áo trắng
cha mặc một
lần khi ra pháp trường phơi thây .. ’ ’
Những lời ca thắm thiết của
một thời, nghe hoài vẫn thấy đứt ruột
.
+ SÀI GÒN TRƯỚC NGÀY
Sài Gòn khởi thủy chỉ là một làng
đánh cá nhỏ của
người Miên, nằm ở vị trí giao lưu của Rạch
Bến Nghé-Sông Sài Gòn và trở nên quan trọng, sau khi được
chọn làm thủ đô miệt rừng của Phó vương
Miên, cai quản miền Thủy Chân Lạp, nên mới được
gọi là Prey Nokor. Trong lúc đó hầu hết lưu dân Việt đầu
tiên, tới khẩn hoang lập ấp trên đất Miên, đều
tập trung ở khu vực đông bắc, vùng Mõ Xùy-Ðồng
Nai, cách Sài Gòn chừng 30 km. Tất cả cũng nhờ
công lao của Hoàng Hậu Ngọc Vạn, nên triều đình Chân Lạp đã
cho phép người Việt vào đất Miên lâp nghiệp một
cách dễ dàng. Năm 1698 Preykor đổi thành Sài Côn,được
mô tả là rộn rịp trù phú. Nhưng năm sau (1699) bị
vua Chân Lạp là Nặc Thu, ra lệnh đốt phá nhà cửa
và tàn sát (cáp Duồng) lưu dân Việt tại đây. Trước
tình cảnh nguy ngập của đồng bào, nên Chúa Nguyễn
Phúc Chu, đã phái Thống Suất Nguyễn Hửu Cảnh,
đem quân hai Dinh Bình Khang-Bình Thuận vào Nam, hợp với
hai cựu tướng nhà Minh là Trần Thượng Xuyên,
Dương Ngạn Ðịch, lúc đó đang cùng 3000 binh
sĩ dưới quyền, được Chúa Nguyễn,
cho khai phá vùng Ðông Phố, Lộc Dã, Mỹ Tho.., để lập
các làng định cư Minh Hương. Tất cả cùng
nhau bình định Chân Lạp, đánh đưổi Nặc Thu chạy
về Nam Vang. Sau khi tình hình khắp vùng đã ổn định,
Nguyễn Hữu Cảnh trả lại đất Lục
Chân Lạp cho vua Miên, rút quân về nhưng trên đường
lui quân, thì nhuốm bệnh và mất tại Rạch Gầm
(Ðịnh Tường), vào ngày mồng 9 tháng 5 năm Canh Thìn
(1700), lúc đó chỉ mới 51
tuổi. Ðược tin buồn trên, cả nước, từ
triều đình, xuống tới
dân chúng, ai cũng thương tiếc một đấng
anh hùng cái thế, có công lao rất lớn đối với
đất nước và dân tộc Việt Nam., trên đường
mở mang bờ cõi về phương
Theo Trịnh Hoài Ðức, từ năm 1698
trở đi, Nam Hà đã thiết lập được
chính quyền tại Sài Gòn, dựa theo qui chế của nhà
Hậu Lê., vì lúc đó
các Chúa Nguyễn tuy đánh
nhau với Họ Trinh nhưng vẫn còn thần phục
Vua Lê. Mãi tới năm 1744, Chúa Nguyễn Phúc Khoát mới xưng
vương hiệu, dời phủ chúa về kinh thành Phú
Xuân (Huế ), đúc
ấn tín và chia bờ cõi Ðàng Trong, từ Nam Bố Chính vào tới
Hà Tiên, thành 12 dinh, 1 trấn, đặt Huyện Tân Bình (Gia
Ðịnh) làm Phiên trấn dinh.. Sau khi Thống Suất Kinh Lược
Sứ Nguyễn Hửu Cảnh mất, lần lượt
các quan võ cao cấp nhất thời ấy, lần lượt
thay thế như Trương Phúc Vĩnh (1731), giữ chức
Ðiều Khiển. Năm 1753 quan Ký lục Bố Chính Dinh là
Nguyễn Cư Trinh, giữ chức Tham mưu, chỉ huy 5
Dinh Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ. Ðồng
thời kiêm Kinh Lược Sứ , cai trị luôn đất
Lục Chân Lạp. Năm 1772 Chúa Nguyễn Phúc Thuần cử
Nguyễn Cửu Ðàm con Nguyễn Cửu Vạn làm Ðiều
Khiển Sài Gòn, kiêm Thống Suất các Dinh . Ông là người
đầu tiên cho đắp lủy đất, bao quanh các đồn
dinh, chạy dọc theo Rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn để
ngăn ngừa các cuộc tấn công của người
Miên. Năm 1776 bị quân Trịnh từ Ðàng Ngoài tấn
công, Chúa Nguyễn Phúc Thuần cùng hoàng gia, bỏ Phú Xuân, chạy
vào Sài Gòn nhưng năm sau (1777), lại bị Nguyễn Lữ
(Tây Sơn) tấn công, nên Chúa Nguyễn phải chạy về
Dinh Trấn Biên. Từ đó,
trong suốt 10 năm (1777-1787), Sài Gòn trở thành bãi chiến
trường giữa hai phe Chúa Nguyễn và Nhà Tây Sơn. Cuối
cùng vào tháng 8-1788, Chúa Nguyễn Ánh ( cháu Nguyễn Phúc Thuần
bị Tây Sơn giết), mới chiếm lại được
Sài Gòn.
Năm 1802 Vua Gia Long đánh bại Nhà Tây Sơn và thống nhất
đất nước từ Bắc vào Nam, đóng đô tại
kinh thành Huế thuộc tỉnh Quảng Thuận (Thừa
Thiên) . Sài Gòn và toàn cõi Nam Phần, được giao cho quan
Tổng Trấn Lê Văn Duyệt, là một trong những tướng
lãnh tài ba, đạo đức của Nhà Nguyễn. Vùng đất
cuối cùng vủa miền Thủy Chân Lạp, được
sáp nhập vào lãnh thổ của Ðại Nam, năm 1840 là Sóc
Trăng, kết thúc cuộc Nam tiến của người
Việt, từ Quảng Bình vào tới Hà Tiên, kéo dài hơn
800 năm.
Năm 1858 thực dân Pháp bắt đầu
xâm lăng VN, chiếm Sài Gòn lúc đó, theo tài liệu của một người
Pháp tên Barrière viết trong ‘ Histoire de l’expédition en Cochinchine en
1861 ‘, thì đây không phải là một thành phố, mà chỉ
là các làng mạc rãi rác, trên địa điểm của
Sài Gòn ngày nay. Riêng lưu dân Trung Hoa đầu tiên tới lập
nghiệp tại Biên Hòa từ năm 1860 nhưng thành phố
này đã bị quân Tây Sơn tàn phá năm 1778. Do đó mọi người
phải chạy về Rạch Bến Nghé lánh nạn và xây
dựng ở đây thành phố Chợ Lớn. Khi Lê Văn
Duyệt làm Tổng Trấn Gia Ðịnh Thành, đã chỉnh
trang lại Chợ Lớn, thiết lập giang cảng, trải
đá dọc theo Rạch
Bến Nghé và cho xây cất nhiều kho hàng ở cả hai
bên bờ . Ngoài ra còn cho đào
nhiều kênh, biến các vùng đất thấp trũng nước
thành ruộng lúa. Hàng hóa và ghe thuyền khắp nơi, nhờ
có Rạch Bến Nghé (Trung Hoa) và kênh đào nên ra vào Chợ Lớn tấp nập.
Tính tới năm 1861, Chợ Lớn có 40.000 dân và 500 nhà lợp
ngói, ban đêm thành phố được
soi sáng bởi đèn
dầu phộng. Tóm lại trong thời Pháp thuộc, ở
đây có hai thành phố riêng biệt : Người Việt
và một số ít người Hoa sống ở Sài Gòn. Còn
Chợ Lớn là thành phố của người Hoa, ngăn
cách nhau bởi một nghĩa địa lớn. Ðề đốc
Le Page (1859) và Bonnard (1861) là những người có công, tiếp
nối công trình dang dở của Tổng Trấn Lê Văn
Duyệt, trong việc chỉnh trang, xây dựng và mở rộng
Sài Gòn-Chợ Lớn thành Hòn Ngọc Viễn Ðông. Từ năm
1954-30/4/1975, Sài Gòn-Chợ Lớn nhập chung thành một và
là thủ đô của VNCH. Nhưng Chợ Lớn vẫn
là trung tâm thương-công nghiêp số 1 của Miền Nam,
giữ vai trò nhập-xuất cảng mọi sản phẩm
chế biến, kể cả lúa gạo của đồng
bằng sông Cửu Long. Trong lúc đó Sài Gòn là một thương cảng,
thành phố Âu hóa với nhiều cao ốc, trường học,
các gian hàng buôn bán và là trung tâm hành chánh của Chính Phủ.
- Sài Gòn thời Pháp thuộc (1861-1954):
Khi thực dân Pháp xâm lăng Nam Kỳ, chiếm
Sài Gòn đã có ý đồ coi vùng đất này như là lãnh
thổ của chính quốc. Vì vậy thành phố đã được
chỉnh trang và xây dựng nhanh chóng, để đáp ứng với
tình hình chính trị và quân sự lúc đó.. Trước đây, thành cổ Sài
Gòn và Chợ Lớn thời nhà Nguyễn được bao
bọc bởi hai con rạch Tàu Hủ, Thị Nghè và sông Sài
Gòn,nắm ưu thế về quân sự lẫn kinh tế.
Chính Chúa Nguyễn Ánh trong thời gian tẩu quốc, đã
nhìn thấy sự lợi hại của Sài Gòn, nên quyết
tâm chiếm lại trong tay Nguyễn Lử, để làm hậu
phương và căn cứ chính cho quân Nguyễn, chống
lại Nhà Tây Sơn.
Qua các bản đồ cổ còn lưu trữ
tại Nha Ðịa Dư VN, ta thấy đầu tiên Sài
Gòn-Chợ Lớn, gần như phát triển riêng biệt.
Cũng trong thời gian này tình trạng dân số tại hai
thành phố tăng trưởng nhanh chóng, vì vậy Pháp đã
mở nhiều trục lộ giao thông trong hai thành phố.
Sau khi Ðệ nhất thế chiến 1 chấm dứt, thực
dân trở lại khai thác tài nguyên Ðông Dương mà VN là quan
trọng nhất. Từ Sài Gòn Chợ Lớn, Pháp di dân tới
miền Ðông là vùng đất xám đó rất phì nhiêu, để lập
các đồn điền trồng cao su, cà phê, trà, mía, thuốc
lá.. Ðồng thới Pháp cũng di dân về đồng bằng
sông Cửu Long, đào
kênh, mở rộng đất đại trồng lúa. Sự
phát triển kinh tế Nam Kỳ, giữa hai cuộc thế
chiến, làm tăng thêm sự thịnh vượng của
Giang Cảng Sài Gòn, nhát là việc xuất cảng gạo.
Cũng từ đó
nhiều nhá máy xây lúa, các khu công nghệ chế biến.. gần
như tập trung ở Chợ Lớn, thu hút cư dân cả
nước đổ xô về thủ đô của Nam Kỳ
lập nghiệp, nhờ sự phát triển của các hệ
thống thiết lộ xuyên Việt từ Bắc vào tới
Sài Gòn, Mỹ Tho và Lộc Ninh. Ðường bộ lên tới
Nam Vang của Cao Mên, được khai thác từ năm
1936 trong thời gian Doumer làm Toàn quyền Ðông Dương. Mặc
dù đã có đường xe lửa và đường bộ
nối liền nhưng trước năm 1945, giữa Sài
Gòn Chợ Lớn vẫn còn ngăn cách bởi khu nghĩa địa,
nhiều đầm lầy, ruộng trồng lúa và các khu vườn
trồng cây ăn trái.
Sau ngày
Cuối cùng quân viễn chinh Pháp đã bị
toàn dân VN đánh bại tại
Ðiện Biên Phủ nhưng thảm thê thay cho số phận
của một dân tôc nhược tiểu trước sự
sắp đặt của cái gọi là Liên Hiệp Quốc,
nên đất nước lại chia đôi, làm cho nửa
phần giang sơn gâm vốc của Hồng Lạc, đã
phải ngậm ngùi đắng cay, lọt vào thế lực
của Hồ Chí Minh và đảng cọng sản. Ngày
20-7-1954, hiệp định phân đôi đất nước
chính thức được ký tại Genève, lần nửa đã
làm hơn cả triệu đồng bào Miền Bắc, trốn
chạy vào Nam tị nạn cọng sản, trong số này
có 850.000 người đổ xô về thủ đô Sài
Gòn-Chợ Lớn. Ngày 7-7-1954 nội các Ngô Ðình Diệm chính
thức ra mắt quốc dân VN, trong một giai đoạn
cực kỳ hổn loạn nhất của đất nước
với tình trạng sứ quân như thời nhà Ngô và trên hết
nạn nhân mãn tại thủ đô.
- Sài Gòn thời VNCH (1955-1975):
Ngay khi thu hồi được nền độc
lập từ thực dân Pháp, chính phủ VNCH đã nổ lực
chỉnh trang và mở rộng thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia
Ðịnh, để giải quyết tình trạng gia tăng
dân số. Thành phố được mở rộng khắp
nơi, ngoại trừ phía bên Thủ Thiêm vì sự ngăn
cách bởi con sông Sài Gòn quá rộng, không có cầu bắc
ngang sông và vùng bên đó
có nhiều ao hồ, trũng thấp nên thường bị
lụt. Nhiều cầu mới được bắc ngang
kênh Tàu Hũ và Kinh Ðôi, cùng với đường xe lửa
và nhiều đường xá chạy song song với hai con
kênh trên, khiến ranh giới giữa Sai Gòn-Chợ Lớn, được
thu hẹp. Trong giai đoạn này, đã có nhiều xóm nhà
bình dân, mọc lên ở vùng ven biên, gồm khu nhà sàn và nhà ghe
dọc theo hai bờ kinh Tàu Hũ, từ Cầu Quây tới
Chợ Quán, dọc theo bến Hàm Tử, Bình Ðông và bến
Phạm Thế Hiển (kinh Ðôi).
Ðể giải quyết nạn nhân mãn tại
thủ đô, ngoài việc hồi hương của quân viễn
chinh Pháp và người Việt có quốc tịch nước
này. Tổng thống Ngô Ðình Diệm đã ban hành các Dụ số
7 (1955), Dụ số 57(1956), nhằm mục đích khuyến khích
nông gia có ruộng trở về tiếp tục canh tác, nếu
bỏ hoang sẽ bị truất hữu để phân phối
cho người khác. Ðạo luật trên, cũng nhằm thực
hiện chính sách cải cách điền địa của
Chính phủ Quốc Gia, giúp tá điền trở thành chủ
điền, bằng chính sách tịch thu ruộng của những
chủ điền có trên 100 mãu tây. Ruộng này được
bán lại cho tá điền, qua hình thức Tín Dụng, trả
góp cho chính phủ trong 12 năm. Ngoài ra còn có Chính Sách Dinh Ðiền
và Khu Trù Mật, dành cho đồng bào Di Cư Miền Bắc
và Ðồng Bào nghèo ở Miền Trung cũng như trên các tỉnh
Cao Nguyên Trung Phần.. Tại các Khu Dinh Ðiền mới này,
nông dân ngoài ruộng được cấp tùy theo nhân khẩu
( từ 1-2 mẫu), còn có quyền khẩn hoang tới 5 mẫu
đất. Còn Khu Trù Mật thì dành riêng cho các gia đình sống rãi rác ở
những vùng xa xội các trục giao thộng, quận, tỉnh..,
được dồn về đây sinh cơ lập nghiệp.
Ðây là một địa điểm chuyển tiếp , giữa
nông thôn và thành thị, nên có đủ cơ sở hạ tầng,
trường học, chợ búa và bệnh xá . Tất cả
miễn phí, nhà có điện và đất vườn trồng
các loại cây ăn trái. Tóm lại chỉ trong 3 năm
(1955-1957), chính phủ đã thiết lập được
72 Khu Dinh Ðiền + Trù Mật ở Cao Nguyên Trung Phần, 37 ở
Miền Trung và 97 Khu tại Nam Phần. Nhờ vậy đã
giảm bớt 250.400 người tại Sài Gòn (80.325 đồng
bào miềnBắc di cư + 70.075 dân Miền Trung + số dân
Ðô Thành tình nguyện).
Ngoài ra Chính Phủ còn thực hiện nhiều
công trình chỉnh tranh thành phố như dẹp bỏ thiết
lô Sài Gòn-Mỹ Tho và hệ thống đường xe lửa
điện trong thành phố, mở rộng các đại lộ
chính, xây hai cầu Phan Thanh Giản và Thị Nghè, để
mở rộng thành phố ra Xa lộ Biên Hòa.. Một hệ
thống xe buýt công cộng cộng, nối liền trung tâm
thủ đô với các quân ven biên Tân Bình, Bình Thạnh, Phú
Nhuận, khiến cho dân số vùng này, từ 64.700 (1951) tăng
lên 236.000 (1959).
Ngày 20-12-1960, Hồ Chí Minh và cọng sản
Hà Nội, lại phát động cuộc chiến tranh xâm lăng
VNCH, qua bình phong MTGPMN , theo chiến thuật cố hữu ‘
lây nông thôn bao vây thành thị ‘, gây bất ổn đời
sống của đồng bào khắp nơi, khiến cho
nhiều người lại bỏ hết tài sản, ruộng
vườn, để chạy ngược về Sài Gòn
lánh nạn .Rồi thì chính biến 1-11-1963, Anh em Tổng Thống
Ngô Ðình Diệm bị sát hại dã man trên chiếc Thiết
Vận Xa, từ Chợ Lớn về Bộ Tổng Tham Mưu.
Dương văn Minh lên nắm quyền Chủ Tịch Hội
Ðồng QLVNCH, ra lệnh đình chỉ chương trình chỉnh
trang thủ đo, đồng thời giải toả và dẹp
bỏ các Khu Dinh Ðiền và Trù Mật của Tổng Thống
Ngô Ðình Diệm. Sự kiện trên đã làm hỏng chiến
lược giãm dân thành phố và trên hết cô lập Việt
Cộng trà trộn sống bám vào dân, tạo cơ hội
cho cọng sản trở lại nằm vùng và len lõi vào dân đang
sống tại các Ấp Ðời Mới (Tân Sinh), sau khi bỏ
hết các vòng rào chiến lược, phòng thủ.
Sau 3 năm (1963-1966) xáo trộn chính trị
vì nạn loạn tướng, kiêu tăng và cha cố ông trời,
làm cho tình hình cả nước cũng như tại thủ
đô nát bét vì sự tranh dành quyền lực của mọi
phe nhóm, tạo cơ hội cho VC hồi sinh, đánh phá khắp nơi,
khiến cho dân chúng nông thôn bồng bế chạy về các
thị trấn, tỉnh lỵ và thủ đô lánh nạn,
làm cho vật giá leo thang, thất nghiệp trầm trọng,
nẩy sinh nhiều tệ đoan xã hội như trộm
cướp, giết người, hút xách, đĩ điếm,
lấy Mỹ và quân đội Ðồng Minh có mặt tại
VNCH. Tháng 7-1967, Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng
Thống Ðệ Nhị nền Cộng Hòa Miền
Tóm lại từ ngày độc lập
(tháng 7-1954) cho tới cuối tháng 4-1975, dù bị Hồ Chí
Minh và cong sản đệ tam quốc tế xâm lăng phá
hoại không ngừng nhưng chính phủ VNCH, cũng đã
cố gắng kỷ nghệ hóa đất nước, mở
rộng các xí nghệp khắp nơi tại thủ đô,
nhất là ngành dệt và chế biến thực phẩm,
hóa học, dược liệu, điện và các loại
máy móc.. với số lượng thống kê là 8132 cở sở
lớn nhỏ. Sài Gòn cũng là nơi tập trung tất cả
cơ quan đầu não của chính phủ như các bộ,
quốc hội, tòa đại sứ của các phái bộ
ngoại giao. Tính đến cuối tháng 4-1975, thủ đô
( Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Ðịnh) với tổng số
trên 4 tiệu dân, là một trong những thành phố đẹp
đẽ tráng lệ nhất thế giới, là một thị
trường tiêu thụ to lớn nhất VN vì có một đại
giang cảng thuận lợi, với số hàng hóa xuất
nhập lên tới 7,5 triệu tấn hằng năm, đó là chưa kể tới
Tân Cảng và Giang Cảng nhập Xăng Dầu tại Nha
Be. Thủ đôợ Sài Gòn còn có phi cảng quốc tế
Tân Sơn Nhất, vô cùng tấp nập với hơn
1.070.000 hành khách đi về (năm 1970) với đầy đủ
các hãng hàng không quốc tế, nên được mệnh
danh là Chicago Châu Á. Riêng Hàng Không VN đãm trách các đường
bay quốc nội, tại các phi trường tối tân vừa
được thiết lâp ở Huế, Ðà Nẳng, Qui Nhơn,
Pleiku, Ban Mê thuộc, Ðà Lạt, Nha Trang, Tháp Chàm, Phan Thiết,
Biên Hòa, Vũng Tàu, Cần Thơ, Phú Quốc, Mỹ Tho..
Sài Gòn là vậy đó, VNCH là vậy đó, thảm thay tất
cả bị sụp đổ hoàn toàn vào trưa ngày 30-4-1975,
qua lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương
Văn Minh.
+ THÀNH HỒ (5/1975 - 5/2007), CÁI GÌ CŨNG CÓ :
Ngay khi Sài Gòn vừa lọt vào tay giặc,
tháng 5-1975 VC lập Ủy ban quân quản thủ đô và Ủy
ban cách mạng tại các tỉnh, ra lệnh phong tỏa
ngân hàng và chiếm đoạt tất cả các xí nghiệp
cả nước, công hay tư, từ lớn tới nhỏ.
Bắt đầu từ đó, các xí nghiệp được điều
hành bởi một thành phần quản ly mơi, gồm
toàn cán bộ cọng sản miền Bắc hay tập kết.
Riêng chủ nhân thực sự của xí nghiệp thì giữ
vai trò ‘ cố vấn kỹ thuật’. Ðồng thời ra lệnh
kiểm kê hết các cơ sở công nghiệp nhỏ và nhà
buôn. nhưng ác liệt nhất vẫn là hai đợt cướp
của, qua cái danh từ mỹ lệ : Ðánh Tư Sản Mại
Bản .
Vào tháng 9-1975, VC ra lệnh bắt giam hay quản
thúc tại nhà, tất cả đại kỷ nghệ gia,
thương gia, chủ cao ốc, khách sạn, nhà hàng, nhà
in, tiệm sách báo.. tất cả hơn 100 người. Họ
bị đuổi ra khỏi cửa, sau khi toàn bộ tài sản
gồm nhà cửa, xí nghiệp, xe cộ, tiền bạc
vàng ngọc .. bị đảng trấn lột hết. Ðồng
lúc là đợt đổi tiền đầu tiền.
Cũng từ đó đồng
bạc VNCH không còn giá trị và được đổi
thành tiền Mặt Trận, tối đa mỗi gia đình được
200 đồng ( tương đương 100.000 tiền
VNCH). Theo VC, miền Nam lúc đó có hai loại tư bản là Tư
sản thương nghiệp bao gồm đại thương
gia, trung thương gia, chủ tiệm ăn. được
đảng gán tội bóc lột nhân dân, đầu cơ
tích trử để trục lợi, nên phải có tội
.Còn giới buôn bán nhỏ và các tiểu công nghệ.. là thành
phần sản xuất có ích cho xã hội chủ nghĩa nhưng
cũng phải được cải tạo để
theo đúng đường
lối của chế độ đề ra.
Từ thàng 3 -5/1978, để tiêu diệt
và xóa sổ những gì còn lại của nền kinh tế
VNCH trước năm 1975, VC lại đánh tư bản miền
Nam đợt 2 vào ngày 23-3-1978, vô cùng qui mô và ác liệt, chẳng
những tại thủ đô Sài Gòn, mà ở khắp các
thành thị từ vỉ tuyến 17 vào tận Cà Mâu, Rạch
Giá, Hà Tiên. Lần này coi như vĩnh tuyệt, vì tất cả
tài sản của người miền Nam, từ tiền bạc,
vàng ngọc, nhà cửa, cơ sở thương mại, lều
nước mắm, nhà máy xay lúa, ghe thuyền đánh cá, xe đò, xe vận tải
và các loại xe nhỏ.. đều bị đảng cướp
giựt, tịch biên một cách công khai. Tàn nhẩn hơn, đảng
còn ra lệnh cho những nạn nhân tay trắng này, trong
vòng một tháng phải ra khỏi Sài Gòn, để đi
kinh tế mới. Riêng tại Sài Gòn, tính đến ngày
3-5-1978 đã có hơn 30.000 người, bị đuổi
khỏi mái ấm gia đình
và nơi chôn nhao cắt rốn, để vất vưởng
tha phương tới các vùng gọi là kinh tế mới, được
thiết lập sát biên giới Việt-Miên trong các tỉnh
Tây Ninh, Bình Long, Phước Long,An Xuyên, An Giang, Ðồng Tháp
Mười, Châu Ðốc Lâm Ðồng.. hay gần hơn nếu
còn chút tiền chạy chọt, sẽ được đưa
tới các nông trường tập thể Lê Minh Xuân, Nhị
Xuân, Thái Mỹ, Phạm Văn Cội 1 và 2, ở Củ Chi
và Hậu Nghĩa. Tóm lại ở đâu đồng bào
cũng lâm vào tuyệt lộ, dù là công nhân tại các nông trường
với đồng lương chết đói. Riêng chủ nhân
xe đò, ghe bầu, tàu đánh cá, xe vận tải..
được xem là thành phần tư sản dân tộc
nên trở thành xí nghiệp công tư hợp doanh nhưng do
nhà nước quản lý, cán bộ đảng làm giám đốc,
còn người chủ thật sự, thì lên chức cố
vấn kỷ thuật. Tuy nhiên giới này còn được
chút an ủi, là được cho phép ở lai thủ đô,
có hộ khẩu tem phiếu và hưởng qui chế công
nhân viên nhà nước, từ 60-85 đồng bạc Hồ.
Có một ít được lãnh lương đồng hóa
chuyên viên, lương 105 đồng. Nhưng lở hết
rồi, có không muốn cũng đành chịu. Sau rốt là những người
buôn bán nhỏ, được đảng cho hành nghề
trong các khu vực tập trung, với giá cả đã có sẳn.
Ngày 25-4-1978, thủ tướng Phạm Văn
Ðồng đã ký một nghị định tuyệt mật,
mang số 78, quyết định thống nhất tiền
tệ cả nước và được thi hành bắt đầu
ngày 3-5-1978. Cũng Phạm Văn Ðồng ký thêm một nghị
định ngày
Nhưng võ quít dầy có móng tay nhọn, kẻ
cướp luôn gặp bà già, đó làmột chân lý. VC độc ác, bất
lương, bạo tàn nhưng lại quá ngu si, luôn tưởng
mọi người im lặng trước hành động
thảo khấu của đảng và cán bộ, là đã đồng
tình và sợ chúng. Vì vậy chúng lại càng tham lam, hấp tấp,
đem các luật lệ rừng rú thú vật của cái gọi
là xã hội chủ nghĩa, cùng với chính sách tập thể
hóa cưởng bách đất đại, để khống
chế và nắm độc quyền kinh tế của người
miền Nam ở thành thị cũng như nông thôn. Tức
nước vỡ bờ, VC bị dội ngược vào tường,
vì gặp phải sự chống đối của toàn thể
đồng bào VNCH, chẳng những tại Sài Gòn-Chợ Lớn
mà ngay cả nông thôn miền
Tình trạng dân đói lại càng bi thảm hơn, trước
thảm cảnh của những gia đình bị đuổi lên vùng kinh tế
mới, nhất là ở các chốn ma thiêng nước độc
sát biên giới Việt-Miên, do đói rách, tật bệnh, nên lại liều
chết quay về Sài Gòn, sống cảnh đầu đường
xó chợ. Trong số này, phần lớn là thành phần
quân, công, can, cảnh và cả thương phế binh VNCH.
Vì CS Hà Nội luôn coi Miền Nam như một thuộc địa,
nên khi vào được Sai Gòn nhờ may mắn, đã vơ
vét hết các chiến lợi phẩm về Bắc, kể
cả những nguyên vật liệu rất cần thiết
cho sự phát triển nền công kỷ nghệ VN. Từ
sau năm 1977, hầu hết các cơ sở công kỷ nghệ
luyện kim, dệt, chế biến thưc phẩm tại
Sài Gòn và vùng phụ cận, lâm vào tình trạng khủng hoảng
trầm trọng vì nguyên liệu đã kiệt quệ. Ðây cũng
là thời gian VC bị thế giơi bên ngoài, từ Mỹ,
Trung Cộng, Nhật , các nước trong Hiệp Hội
Ðông Nam A.. cho tới Ấn Ðộ, Liên Âu.. tẩy chay và quay
mặt, trước những hành động thực dân
trong nước, cũng như đã công khai làm nô lệ cho
Liên Bang Sô Viết tại Châu Á.
Ngày 9-6-1980, Trương Như Tảng bộ
trưởng ma trong chính phủ dõm, của cái mặt trận
ba làng GPMN, chạy thoát ra ngoài, tới Ba Lê họp báo, tố
cáo cọng sản Hà Nội tham tàn bạo ác, ngu dốt rừng
rú, nên chỉ mới một thời gian ngắn cai trị
Miền Nam, đã làm cho Sài Gòn sụp đổ toàn diện
về kinh tế, thiếu thốn lương thực và tệ
nạn tham nhũng bất công cửa quyền, đã khiến
cho hầu hết các công ty hợp doanh còn lại khánh tận
vì thuế theo luật rừng. Cũng nhờ đảng
quyết tâm cải tạo kinh tế, mà dân nghèo càng nghèo, bất
công bất bình đẳng xã hội càng trầm trong gấp
trăm lần trước ngày 30-4-1975, vì sự ham muốn
hưởng thụ vất chất tiện nghi, của cán
bộ đảng từ trên xuống dưới, nghĩa
là chỉ cần có tiền đút lót, thì việc gì cũng tốt,
cũng xong.
Ðể lấy lại nềm tin cứu đảng,
ngày 3-2-1980, nhân kỷ niêm thành lập 50 năm đệ tam
cọng sản quốc tế, tổng bí thư Lê Duẩn đòi diệt trừ nạn
tham nhũng, hối lộ, lạm quyền và hứa tận
diệt, qua chính sách ‘ ba lợi ích’, lại tạo cơ hội
thêm cho cán đảng tham ô lộng quyền, móc ngoặt với
gian thương đem hàng hóa trong các cửa hàng quốc
doanh bán ra thị trường chợ đen. Ba Tàu Chợ Lớn
lại trổi dậy, đóng
vai trung gian các nghiêp vụ mua bán chui, giữa các Ba Tàu Hồng
Kông, Ðài Loan, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, bằng cách chở hàng
hóa bằng thuyền tàu tới tận hải phận VN, để
đổi chác vàng, mỹ kim hoặc các thổ sản VN như
gạo, tôm cá đông lạnh.. Nhờ các dịch vụ chui
béo bở này, mà các cán đảng giàu to nhanh chóng, trở
thành những tư bản đỏ, trong xã nghĩa thiên đường.
Cuộc dành ăn , đã khiến hai phe đảng giáo điều
và đảng canh tân, thanh toán công khai đẳm máu tại
Sài Gòn, làm Bắc Bộ Phủ phải xét lại vì đã
nóng mặt, trong cảnh trâu cột nhìn trâu ăn, cũng thấy
thèm.
- Chiến Cuộc Ðẳm Máu, Giữa Tư Bản
Ðỏ Hà Nội Và Sài Gòn :
Cuộc đối đầu giữa hai
nhóm tư bản đỏ Hà Nội và Sài Gòn, thật sự
đã bùng nổ, sau kỳ đại hội đảng lần
thứ V (27-31/3/1982), qua nhiều thay đổi chính trị
nội bộ, khiến thủ tướng Phạm Văn
Ðồng, lại phải cải tổ nội các lần thứ
ba (1980-1982) , có 6 cán bộ trung ương đảng bị
loại khỏi bộ chính trị, trong số này có Nguyễn
Lam, Trần Phương, Ðinh Ðức Thiện,Nguyễn Thành
Thơ và Võ Nguyên Giáp. Riêng Võ Văn Kiệt bị bứng gốc
Thành Ủy Thành Hồ, về Hà Nội ngồi chơi sơi
nước, trong chức vụ phó thủ tướng kiêm
chủ tịch ủy ban kế hoạch nhà nước, kể
cả tướng công an Mai Chí Thọ (mới theo bác về
chầu tổ Mac-Lê) cũng bị lung lay địa vị.
Phó thủ tướng Ðổ Mười được
đảng giao thi hành chính sách sửa sai tại thành Hồ,
với nhiệm vụ đánh
tư sản thương nghiệp, trừng trị cán đảng
hủ hóa tham ô, bắt đầu thi hành vào tháng 5-1983. Mục
đích cũng chỉ
là triệt tiêu các cửa hàng IMEX tại các quận trong
thành Hồ, vì lúc đó
tất cả hàng hóa xuất nhập đều do cửa
hàng trung ương IMEX tại đưởng Nguyễn Huệ
độc quyền. Cùng lúc Hà Nội ban hành nhiều sắc
thuế nặng nề, đánh
vào giới tiểu thương tại Chợ Bến Thành
và các khu thương mại trong Quận Nhất, khiến
cho nhiều cơ sở phải xập tiệm như Nhà
Hàng Chí Tài, Tài Nam, Paris, Cola.., đành hiến cho đảng, sau đó thành công ty hợp
doanh. Ðộc hiểm hơn, Ðổ Mười còn mở chiến
dịch đánh giới tư thương
bán lẽ, hàng rong trên vệ đường, viện cớ
chỉnh trang thành phố. Ðối với đồng bào có
thân nhân nước ngoài, Ðổ Mười ban lệnh hạn
chế số quà cáp và qui định tiền nhận được,
phải bỏ vào quỹ tiết kiệm. Hành động
quái quĩ này, khiên cho ngoại viện của Việt kiều
tụt giãm trầm trọng, vì không ai muốn của mồ
hôi nước mắt , lọt vào tay đảng. Trong dịp
này Ðổ Mười đã thanh toán được nhiều
ngàn tư bản đỏ, trong đó cộm nhất có giám đốc xí
nghiệp liên hiệp Cửu Long,bị tịch thu trên 20 ký
lô vàng ròng. Cùng với nhiền cán đảng cao cấp tham
ô trong các cửa hàng IMEX như Cholimex, Sidimex,Gidimex..
Mặc kệ cho đồng bào cả nước
bất mãn vì sưu cao thuế nặng, lạm phát, khan hiếm
thực phẩm, thất nghiệp và tham ô càng lộng hành,
Hà Nội vẫn theo đúng
đường hướng TÂN CHÍNH SÁCH (NEP) của Liên Xô đề
ra, ban hành nghị quyết của bộ chính trị trong
phiên họp ngày 17-12-1984 để
tập thể hóa đất đai miền Nam và kiểm
soát tư thương. Thêm vào, là nghị quyết số
8-1985,bãi bỏ chế độ bao cấp, ấn định
lại giá hang quốc doanh gần bằng giá tại thị
trường. Cuối cùng là ÐỔI TIỀN MỚI lần
thứ ba, vào ngày 14-9-1985, làm cho tiền Hồ lần nữa
bị phá giá tới 90%, so với tiền trước. Ðây
cũng là cơ hội để đảng Việt Cộng
có cơ hội vàng ròng, đẽ ra chính sách buôn bán nô lệ
mới trong thế kỷ XX, một mặt đảng đầy
ải đồng bào mạt rệp vì bị cướp cạn
tài sản qua ba đợt đánh tư sản và đổi tiền,
tới các vùng đất ma thiêng nước độc,
trên cao nguyên và sát biên giới để mở các đồn
điền cao su, trà, cà phê.được trả bằng lương
công nhân viên chết đói.
Nhưng quan trọng nhất là xuất người làm vật
lao động , để đổi lấy ngoại tệ
tại các nước Liên Xô, Ðông Ðức, Tiệp Khắc..
mà theo thống kê đã có tới cả trăm ngàn người.
Tuy nhiên tất cả kế hoạch của đảng hầu
như thất bại hoàn toàn, dân chúng nghèo Sài Gòn vẫn bám
trụ tại chổ, mua hàng chui tại chợ trời chợ
đen để sống, mà không cần vào tem phiếu tq5i
cửa hàng quốc doanh. Nền kinh tế chợ trời-chợ
đen phát triển lên tận mây xanh, giúp cho người
nghèo tại thủ đô cũng như các thành phố lớn
khác của miền
- Sài Gòn bây giờ cái gì cũng có :
Như lời Tú Trinh quảng cáo, Sài Gòn bây
giờ, qua danh xưng Thành Hồ cái gì cũng có, sau khi đảng
VC lâm vào đường cùng ngay lúc thành đồng xã
nghĩa Liên Xố và Ðông Âu tan rã và sụp đổ, cúp hết
nguồn viện trợ nuôi sống Bắc Bộ Phủ.
Ðói và gần chết, nên đảng VC đành mở cửa,
trãi thảm đỏ chẳng những quì rước tư
bản đỏ trắng, mà ngay cả kẻ thù không đội
trời chung là Hoa Kỳ và Người Việt ti nạn khắp
thế giới, một thời từng bị Hà Nội phỉ
báng, chưỉ bới là những thành phần phản quốc,
cặn bã của xã hội,trốn ra nước ngoài gái thì
làm điếm, trai ăn cướp lưu manh., đâu có
chừa ai, dù là kỹ sư, bác sĩ, tướng tá, nhà văn,
nhà báo, kể cả sư cha và me Mỹ-Pháp..
Cũng nhờ mở cửa cứu đảng,
mà từ năm 1990 tới nay, thành Hồ không những hóa rồng
mà là xứ cáo, tưng bừng nhảy vọt qua tuyên truyền
trên báo đảng và những luận điệu tâng bốc
bợ đít của một
vài tờ báo Việt ngữ và đài ngoại quốc có chương
trình tiếng Việt,la làng quảng cáo dùm cho đảng
VC, nào là năm du lịch, năm vận động ngoại
giao, năm điện khí hoá, năm thanh lọc hành chánh, năm
chấn chỉnh kinh tế.. rồi năm đối tác và
giao lưu của Việt kiều sau khi đã đi hết
biển.. Nhưng tất cả những người về
nước thăm nhà, kể cả những người
già gần xuống đất, cũng ráng trở lại
quê hương thứ hai để hưởng trợ cấp
và tiện nghi , chứ có ai ngu ở lại hòa hợp, hòa
giải với VC để bị tham nhũng bóc trơ xương
thịt ? .
Sài Gòn là thiên đàng
hạ giới của những Việt Kiều tị nạn
CS, một thời liều chết bỏ nước ra đi
tới xứ người, qua bao năm cầy tóe lửa,
làm hộc máu, tìm đủ mọi cách lường gạt
chính phủ lẫn đồng hương để có nhiều
tiền, rồi vai vác bị bạc lẻ kè, ngạo nghễ
như Simonov hay Don Quichotte, to tiếng rằng ta là Việt
Kiều, ăn chơi xã láng, vung tiền qua cửa sổ,
tại các sòng bạc ôm, karaoké hít, matxa lắc, hớt tóc đôi..
cho tới khi bị trất lột sạch túi. Lúc đó Việt Kiều
ta lại trở lại Mỹ và mọi nẻo đường
hải ngoại, tiếp tục cầy, gạt, khóc lóc với
các chính phủ bản địa để có tiền tiếp
và trở lại quê nhà., vung tiền qua cửa sổ.ạ,
trả thù dân tôc, mà trước khi được vượt
biển tìm tự do, không có dịp.
Và như thế thành Hồ cái gì cũng có, bách chiến bách thắng lừng lẫy nhất vẫn là nạn băng đảng Mafia VC, đứng đầu là chủ soái Nam Cam nghe nói đã bị tử hình tại pháp trường Thủ Ðức, vào một buổi sáng mịt mù sương khói,tử tội bị trùm đầu, còn dân chúng chứng kiến thì đứng nhìn rất xa, nên có ai biết đâu mà mò ?. Băng đảng trộm cướp hoành hành cả nước, chẳng nhửng tại Hà Nội mà ngay tại Sài Gòn, nơi nào cũng có và đây là một trong những tai ương thảm khốc nhất trong cận sử thời Hồ. Nhờ sự bao che của cán đảng, từ trung ương xuống tới khu phồ, Sài Gòn có tới 39 băng đảng trộm cướp, suốt ngày kiểm soát sinh hoạt của người dân lương thiện, khắp phố phường, xí nghiệp tới các trung tâm buôn bán tại các chợ Bến Thành, Bàn Cờ, Hòa Hưng, Xóm Củi,Kim Bi